Câu
chuyện chưa kể: Người Triều Tiên ở Kazakhstan
(Untold Stories: The
Koreans of Kazakhstan)
Ảnh:
Một nhóm Koryo-saram phục vụ trong quân đội Liên Xô thời kì chiến tranh vệ quốc
vĩ đại
Nằm tận sau trong thảo
nguyên Trung Á xa xôi, ít người biết rằng có một cộng đồng hàng trăm nghìn
người Triều Tiên, vốn không có nhiều quan hệ lịch sử với vùng đất này, vẫn đang
sống với những nét văn hóa riêng biệt của mình.
Họ được gọi là
Koryo-saram. Koryo-saram (tiếng Nga: Корё сарам; tiếng Hàn: 고려
사람)
là tên mà người Triều Tiên ở Trung Á dùng để tự gọi mình. Thuật ngữ này bao gồm
hai thành phần: "Koryo", một trong những tên của Triều Tiên cổ, và
"saram", có nghĩa là "người''. Khoảng nửa triệu người Triều Tiên
đã sống ở Liên Xô, chủ yếu ở các quốc gia Trung Á. Ngoài ra còn có các cộng
đồng Hàn Quốc lớn ở miền nam nước Nga (xung quanh Volgograd), vùng Caucasus và
miền nam Ukraine.
Từ "Koryo"
trong "Koryo-saram" có nguồn gốc từ tên của triều đại Goryeo (Koryŏ) trong
lịch sử Triều Tiên. Tổ tiên của người Triều Tiên có lãnh thổ mà nay gồm bán đảo
Triều Tiên, vùng Đông bắc Trung Quốc và Viễn Đông Nga. Trải qua lịch sử, phần
lớn vùng đất của người Triều Tiên đã nằm bên đất Mãn Châu của Trung Quốc. Đến
thời kì nhà Thanh của Trung Quốc suy yếu, nhiều vùng đất Mãn Châu đã bị đế quốc
Nga thôn tính.
Những người Triều Tiên
đầu tiên trong Đế quốc Nga là 761 gia đình có 5.310 người, đã thực sự di cư đến
lãnh thổ nhà Thanh nhưng vùng đất họ ở được nhượng lại cho Đế quốc Nga năm
1860. Nhiều nông dân Triều Tiên coi Siberia là một vùng đất màu mỡ nơi họ có
thể sống tốt hơn nên đã di cư đến đó. Đầu năm 1863, 13 hộ gia đình Triều Tiên
được ghi nhận gần Vịnh Novukorut. Những con số này tăng lên đáng kể, và đến năm
1869, người Triều Tiên chiếm 20% dân số của tỉnh Maritime. Trước khi hoàn thành
tuyến đường sắt xuyên Siberia, người Triều Tiên đông hơn người Nga ở vùng Viễn
Đông của Nga. Cuộc Tổng điều tra của Đế chế Nga năm 1897 đã tìm thấy 26.005
người nói tiếng Triều Tiên (16.225 nam và 9.780 phụ nữ) trong toàn bộ nước Nga.
Vào đầu thế kỉ 20, có
khoảng vài trăm nghìn người Triều Tiên sống ở vùng Viễn Đông của đế quốc Nga và
sau này là Liên Bang Xô Viết. Con số này tăng lên nhanh chóng trong những năm
sau đó. Nguyên nhân lớn nhất là do người Triều Tiên ồ ạt di cư sang Nga sau khi
đất nước họ bị Nhật Bản thôn tính. Tuy vậy, sau khi kết thúc Chiến tranh
Nga-Nhật năm 1907, nước Nga bại trận phải ban hành luật chống Triều Tiên theo
lệnh của Nhật Bản. Theo đó đất đai và tài sản của nông dân Triều Tiên bị tịch
thu và người Triều Tiên bị dồn vào các khu vực hẻo lánh. Dù vậy làn sóng di cư
ngày càng mạnh mẽ hơn do người Triều Tiên coi Nga là vùng đất duy nhất còn chào
đón họ. Kể cả khi cách mạng năm 1917 diễn ra khiến Đế quốc Nga sụp đổ, Liên bang
Xô Viết thành lập cũng không thể ngăn nổi người Triều Tiên tìm đến Nga. Ngoài
ra, còn một cộng đồng khác khoảng 10.000 người, gồm những người Triều Tiên bị
Nhật Bản bắt di cư đến đảo Sakhalin chiếm của Nga vào đầu thế kỉ 20 để khai
thác tài nguyên. Tuy nhiên những người này không nhận mình là Koryo-saram.
Từ năm 1931 Liên Xô đã
buộc những người Triều Tiên di cư hiện tại phải nhập quốc tịch Xô viết. Sau đó
họ thực hiện chính sách korenizatsiya (bản địa hóa) để đồng hóa các dân tộc
thiểu số với người Nga. Theo đó, người Triều Tiên bị buộc phải nói tiếng Nga,
các trường học tiếng Triều Tiên bị đóng cửa, trở thành trại tập trung (gulag)
và sách vở tiếng Triều Tiên bị đốt sạch. Đến năm 1937, lãnh đạo Liên Xô Joseph
Stalin đã ký Nghị quyết 1428-326 vào ngày 21 tháng 8, trong đó trục xuất toàn
bộ người Triều Tiên từ Viễn Đông sang Trung Á. Theo báo cáo của Nikolai Yezhov,
36.442 gia đình Triều Tiên với tổng số 171.781 người đã bị trục xuất vào ngày
25 tháng 10.
Người Triều Tiên không
phải dân tộc duy nhất bị cưỡng bức di cư trong giai đoạn này. Người Ba Lan,
Romania, Ukraine, Baltic,...cũng bị chính quyền Liên Xô trục xuất đến Siberia
và Trung Á. Ngược lại, người bản địa Trung Á vốn đã ít dân, lại bị chết do nạn
đói, bị trục xuất đến Kavkaz và Ural, khiến họ trở thành dân tộc thiểu số trên
chính quê hương mình. Đối với người Triều Tiên, họ bị đưa đi quãng đường 4000
cây số đến vùng đất Trung Á xa lạ đầy khắc nghiệt. Người Triều Tiên bị trục
xuất phải đối mặt với những điều kiện khó khăn ở Trung Á: hỗ trợ tài chính do
chính phủ hứa hẹn đã không được thực hiện, khí hậu khắc nghiệt, đường xá xa
xôi, đa số người bị trục xuất là nông dân trồng lúa và ngư dân, không thể trồng
trọt trên đất thảo nguyên và sa mạc,... Số liệu thống kê dân số cho thấy hơn
40.000 người Triều Tiên bị trục xuất đã chết vào năm 1937 và 1938 vì đói rét,
bệnh tật, tai nạn hay bị hành quyết.
Ở các khu định cư mới
Trung Á, người ta đã xếp họ vào ở tạm các khu chăn nuôi gia súc của các nông
trường. Người Triều Tiên đã phải tổ chức lại cuộc sống từ con số không. Dù khó
khăn, người Triều Tiên vẫn giữ được đức tính lao động cần cù, kiên nhẫn, chịu đựng
và kỷ luật phi thường. Người Triều Tiên đã đi lên từ việc tổ chức các nông
trang chuyên trồng hành và dưa hấu. Hành và dưa hấu của họ rất chất lượng và dần
dần có tiếng toàn Liên Xô. Ngoài ra, người Triều Tiên đã phát triển thêm món
kim chi truyền thống và các biến tấu khác của món này. Nhờ hương vị độc đáo,
món kim chi Triều Tiên đã được toàn thể người dân Liên Xô ưa thích. Các công
nhân Triều Tiên cũng nổi tiếng chăm chỉ và kỉ luật. Nhiều người Triều Tiên được
nhận huân chương lao động của Liên Xô nhờ thành tích xuất sắc của mình. Người
Triều Tiên dần dần đã tạo được cho mình thương hiệu trong Liên Bang Xô Viết,
tạo được điều kiện cho bản thân và con cái họ học hành. Họ thậm chí có mức sống
và trình độ phát triển cao hơn nhiều dân tộc khác trong khu vực. Từng bước, họ
đã vươn lên trở thành một thành phần không thể thay thế trong mọi lĩnh vực ở
Liên Xô. Nhiều người có điều kiện hơn đã di cư vào các vùng khác của Liên Xô
gồm Nga (xung quanh Volgograd), vùng Caucasus và miền nam Ukraine. Họ cũng được
các dân tộc khác ở Trung Á, kễ cả người bản địa lẫn người di cư bao bọc, giúp
đỡ. Họ vẫn kể cho nhau câu chuyện về năm 1937, ở Uzbekistan có nạn đói nhưng
người Uzbek vẫn dành lương thực của mình giúp đỡ người Triều Tiên. Người Uzbek
chết vài nghìn người nhưng không có một người Triều Tiên nào chết đói. Qua thời
gian, người Triều Tiên kết hôn với các sắc dân khác như Kazakh, Uzbek, Turk,
Tajik, Nga, Ukraine,.... khiến nhiều đứa trẻ Triều Tiên sinh ra da trắng, tóc
vàng như người châu Âu. Tuy vậy đa phần họ vẫn giữ được mái tóc đen và đôi mắt
một mí, vẫn ăn tương, xì dầu, đậu phụ và kim chi trong bữa ăn hàng ngày. Tuy
nhiên tiếng Triều Tiên thì rất ít người biết do không được phép dạy.
Giống như các dân tộc
khác trong Liên Bang Xô Viết, khi Chiến Tranh vệ quốc vĩ đại diễn ra, các
Koryo-saram cũng đã lên đường gia nhập Hồng quân. Khoảng 30.000 Koryo-saram đã
tham gia chiến đấu trong Hồng quân trong tổng số hơn 200.000 người Triều Tiên
chiến đấu cho Liên Xô (số còn lại gồm người Triều Tiên Sakhalin và tù binh
Triều Tiên trong quân đội Nhật Bản bị Liên Xô bắt làm tù binh). Họ cũng chiến
đấu dũng cảm như bao người lính Xô Viết khác và góp phần vào chiến thắng phát
xít. Sau chiến tranh, hàng trăm người Triều Tiên đã được phong huân chương và
danh hiệu Anh hùng Liên Xô. Ước tính vài chục nghìn người Triều Tiên trong quân
đội Liên Xô đã chết trong thế chiến, chủ yếu là ở mặt trận Ukraine năm 1943,
đặc biệt là trong trận Kharkov.
Với những đóng góp to
lớn của mình, vai trò của người Triều Tiên trong Liên Xô ngày càng được thừa
nhận và củng cố, và có nhiều người Triều Tiên đã làm vang danh nước Nga. Đầu
tiên là Nellie Kim (1957) một vận động viên thể dục dụng cụ người Nga gốc Triều
Tiên. Nellie Kim đã vinh danh nước Nga bằng 5 danh hiệu vô địch Olympic, 5 danh
hiệu vô địch thế giới và 2 danh hiệu vô địch Châu Âu. Bà hiện là Chủ tịch Ủy
ban Kỹ thuật của Liên đoàn Thể dục Quốc tế nữ, và sống tại Minneapolis. Thứ hai
là Viktor Tsoi (1962-1990), người trong một khoảng thời gian rất ngắn (bắt đầu
hoạt động như là một nhà thơ, họa sĩ, ca sĩ và nhà soạn nhạc từ 1978) đã trở
thành nhà thơ, nhà soạn nhạc và ca sĩ nhạc rock huyền thoại. Ông là người sáng
lập và lãnh đạo nhóm nhạc rock "Kino" (1984-1990) lừng danh. Trong
nhóm này, Viktor Tsoi là ca sĩ chính, ông cũng vừa chơi guitar, vừa làm thơ và
soạn nhạc cho nhóm. Những bài hát của Viktor Tsoi đến nay vẫn được rất nhiều
người, đặc biệt là giới trẻ ưa chuộng. Ông được dựng tượng kỷ niệm và tên ông
được đặt cho đường phố ở nhiều thành phố ở Nga và các nước thuộc Liên Xô cũ. Có
thể nói người Triều Tiên là một trong những cộng đồng nhập cư và không phải Nga
hội nhập thành công nhất ở nước Nga hiện nay. Họ là một trong số không nhiều
cộng đồng dân tộc ở Nga, được người Nga đối xử thực sự tôn trọng, thân thiện và
bình đẳng.
Ngày nay, khoảng nửa
triệu người Triều Tiên đang sống ở các quốc gia hậu Xô Viết, dù không phải tất
cả đều là Koryo-Saram. Họ bao gồm 198.000 người ở Uzbekistan, 125.000 người ở Nga,
105.000 người ở Kazakhstan, 19.000 người ở Kyrgyzstan, 13.000 người ở Ukraine,
6.000 người ở Tajikistan, 3.000 người ở Turkmenistan, và 5.000 ở các nước cộng
hòa cấu thành khác. Phần lớn Koryo-saram ở Trung Á cư trú tại Uzbekistan và
Kazakhstan. Các cuộc tổng điều tra Kazakhstan ghi nhận dân Koryo-saram tăng dần
đều, từng có lúc đông ngang ngửa người Kazakh do người Kazakh chết rất nhiều do
nạn đói từ năm 1919 đến 1933. Người Triều Tiên ở Kazakhstan đặc biệt nhiều ở
các đô thị. Năm 1940, 30% dân số thủ đô Almaty là người Nga, 24% là người Triều
Tiên trong khi chỉ có 21% là người Kazakh. Ngược lại, dân Triều Tiên Uzbekistan
phần lớn nằm rải rác ở các vùng nông thôn. Nhờ vậy họ sống sót qua nạn đói ở
Uzbekistan trong khi nhiều người Uzbek chết đói. Tuy vậy, sau sự độc lập của
Uzbekistan, do sự thù ghét người Nga của người Uzbek, nhiều người Triều Tiên
gặp khó khăn vì chỉ nói được tiếng Nga. Tuy nhiên, quan hệ kinh tế giữa 2 nước
rất tốt đẹp. Kiều hối của lao động Uzbekistan ở Hàn Quốc gửi về lên đến 100 triệu
USD mỗi năm.
Ngoài ra còn có một
cộng đồng nhỏ của Hàn Quốc ở Tajikistan. Họ sống chủ yếu ở thủ đô Dusanbe.
Giống như người Triều Tiên ở các vùng khác của Trung Á, họ thường có thu nhập
cao hơn so với các nhóm dân tộc khác. Tuy nhiên, với sự khởi đầu của cuộc nội
chiến ở Tajikistan vào tháng 5 năm 1992 dẫn đến sự bài trừ người nói tiếng Nga,
nhiều người Triều Tiên đã bỏ chạy khỏi đất nước. Đến năm 1996, dân số của họ đã
giảm hơn một nửa xuống còn 6.300 người. Bạo lực tiếp tục ngay cả sau khi kết
thúc nội chiến; vào năm 2000, các thành viên nhóm khủng bố Hizb ut-Tahrir đã
cho nổ một quả bom trong một nhà thờ Thiên Chúa giáo của người Triều Tiên ở
Dushanbe, giết chết 9 người và làm bị thương 30 người, nhưng chủ yếu là người
Tajik.
(Theo Untold Stories:
The Koreans of Kazakhstan - phóng sự đạt giải báo chí của Magnum Photos năm
2016)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét