Việt Nam trong chiến lược Hoa Kỳ
Vậy là cả bốn tổng thống Mỹ đã
chính thức thăm viếng Việt Nam. Cái khác nhau là hai tổng thống Clinton và
Obama đã tới Hà Nội vào năm thứ tám, năm cuối cùng của nhiệm kỳ hai (Clinton:
16/11/2000 và Obama: 20/5/2016).
TT Bush công du vào năm
thứ sáu (17/11/2006). Lần này, TT Trump chính thức thăm viếng nội trong 11
tháng kể từ khi dọn vào Tòa Bạch Ốc. Việt Nam lại là nước đầu tiên trong nhóm
quốc gia ở Biển Đông trên lộ trình công du của ông. Sự sắp xếp về thời điểm
thăm viếng, và thứ tự trước sau trong các chuyến đi của một lãnh đạo luôn có
một ý nghĩa sâu xa về chính sách ngoại giao.
Việc ông Trump muốn xích
lại gần Việt Nam thì đã lộ rõ ngay từ khi ông phát biểu tại APEC ở Đà Nẵng:
“Tôi rất vinh dự được có mặt tại Việt Nam, ở trung tâm của vùng Ấn Độ-Thái Bình
Dương.” Từ trước đến nay, các lãnh đạo Mỹ luôn nói đến Việt Nam trong khung
cảnh Đông Nam Á hay vùng Biển Đông. Bây giờ, bất chợt, nói đến Việt Nam trong
bối cảnh của cả khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương: và đặt Việt Nam vào ngay trung
tâm. Khu vực này về tên gọi thì không mới nhưng về thực chất đối với ông Trump
là mới, và ông đang cố gắng để quảng bá.
Tại Hà Nội, bản Tuyên Bố
Chung nhắc tới khu vực này hai lần. Cũng vậy, trong bài phát biểu cám ơn thịnh
tình của Việt Nam ông Trump lại nhắc tới hai lần nữa.
Theo tờ Forbes ngày 12
Tháng Mười Một 2017 thì “Việt Nam là nước có lợi nhiều nhất trong chuyến đi.
Việt Nam nhận được cả hai cái YES từ ông Trump. Việt Nam muốn hai điều:
– Thứ nhất, Mỹ thực sự
quan tâm đến sự lo ngại của Việt Nam về tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông. Trước
công du, ông Trump đã cho chiến hạm đi xuyên qua biển, sát cạnh những hòn đảo
Trung Quốc đang xây dựng hoặc tranh chấp. Ngày Chủ Nhật, ngay trước chuyến thăm
Hà Nội của ông Tập Cận Bình, ông Trump lại đề nghị có thể giúp làm trung gian
hay trọng tài về tranh chấp Biển Đông. Forbes cho rằng ông Trump biết rõ Trung
Quốc luôn chống lại vấn đề trọng tài do một trung gian thứ ba chứ đừng nói tới
Mỹ (thật vậy, ngày 13 Tháng Mười Một 2017 báo South China Morning Post từ Hồng
Kông đã bình luận rằng việc ông Trump đề xuất làm trung gian tranh chấp Biển
Đông sẽ khiến Bắc Kinh khó chịu và phủ bóng xuống quan hệ của ông Trump với ông
Tập). Sở dĩ ông Trump cứ đề nghị như vậy là “để cho thấy rằng Mỹ thừa nhận sự
lo lắng của Việt Nam và tối thiểu là không phải là không đứng về phía Việt
Nam;” và
– Thứ hai, Mỹ tiếp tục
ngoại thương tự do đối với Việt Nam mặc dù đã rút khỏi TPP, vì ngoại thương
chiếm tới 89% tổng sản xuất GDP của nước này ($201 tỷ, năm 2016). Dù ông Trump
tấn công các nước (nhất là TQ) tại APEC về mậu dịch bất công đối với Mỹ, nhưng
tại Hà Nội ông đã nhân nhượng, dù cán cân thương mại Mỹ-Việt càng ngày càng
thâm thụt đối với Mỹ (nguyên 9 tháng đầu của năm 2017 đã lên tới gần $29 tỷ so
với $32 tỷ của cả năm 2016 và $31 tỷ, năm 2015). Về điểm này ông chỉ nói rằng
sẽ chờ mong để tiến tới thương mại hai chiều một cách “công bình và hỗ tương”
(fair and reciprocal) và kêu gọi phải “minh bạch hơn” (more transparent).
Tại sao bất chợt, Mỹ chú
ý và ưu đãi Việt Nam? Để tìm câu trả lời, hãy:
Nhìn lại cuộc chiến Việt
Nam
Tiền đề của tiểu luận là
như thế này: ngày nào mà Trung Quốc (TQ) là đối thủ nguy hiểm của Mỹ ở Biển
Đông thì ngày ấy Việt Nam là địa điểm chiến lược quan trọng nhất đối với Mỹ tại
nơi đây. Ngược lại, khi TQ hết là thù địch thì vai trò chiến lược của Việt Nam
đối với Mỹ cũng chấm dứt.
Khi đồng minh nhảy vào
Trong Thế Chiến II, Hoa
Kỳ không để ý tới Việt Nam vì Trung Hoa Quốc Gia dưới trướng Thống chế Tưởng
Giới Thạch là đồng minh gần gũi nhất của Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương.
Mùa Thu, 1949 khi Hồng
Quân tiến vào Bắc Kinh thì chuông báo động ở Washington rung lên.
Sang Đông, Hội Đồng An
Ninh Quốc Gia (National Security Council – NSC) nhóm họp tại Tòa Bạch Ốc dưới
quyền chủ toạ của Tổng Thống Truman để duyệt xét một văn bản rất dài và quan
trọng do NSC soạn về ‘Lập trường của chính phủ Hoa Kỳ về Á Châu’ trước sự đe
dọa của Cộng Sản, kèm theo là những hành động cần thiết và thiết lập một chính
sách rõ rệt về Á Châu để thực hiện ba mục tiêu, quan trọng nhất là để “ngăn
chận bất cứ liên minh quyền lực nào (Liên Xô-Trung Quốc) có thể đưa tới sự đe
dọa an ninh của Hoa Kỳ phát xuất từ khu vực này” (xem Khi Đồng Minh Nhảy Vào –
KĐMNV, Chương 3).
Tiếp theo là công hàm của
Bộ Ngoại Giao (ngày 7/3/1950) xác nhận Việt Nam là địa điểm quan trọng nhất về
chiến lược tại Đông Nam Á.
Ngày 25 Tháng Sáu, 1950,
Bắc Hàn tràn xuống Nam Hàn. Tháng Mười, 1950, Trung Quốc nhảy vào chiến trường.
Mỹ phản ứng mạnh: TT Truman đưa quân sang tham chiến. Nhìn vào Việt Nam, Mỹ bắt
đầu viện trợ cho Pháp để chiến đấu thay cho mình. Huấn lệnh NSC 124 – ngày 13
Tháng Hai, 1952, còn xác định: Đông Dương còn quan trọng hơn cả Triều Tiên rất
nhiều” (KĐMNV, trang 103).
Sau Hiệp định Geneva
(21/7/1954), Pháp quyết đinh rút lui, lập tức Mỹ nhảy vào Miền Nam để ngăn chận
Trung Quốc. Hiệp Định Geneva vừa ký xong Tháng Bảy, 1954, thì Tháng Tám, 1954,
Hoa Kỳ “Hoạch định toàn bộ những hoạt động, gồm cả chính trị, tâm lý, quân sự,
và kinh tế để có thể áp dụng nhằm bảo đảm cho miền Nam được tồn tại là một quốc
gia tự do, đồng thời giúp củng cố đất nước này thành một hàng rào vững chắc để
ngăn chận sự bành trướng của Cộng Sản.”
Từ đó miền Nam trở thành tiền đồn của thế giới tự do.
Từ đó miền Nam trở thành tiền đồn của thế giới tự do.
Kết thúc năm 1954, ngày
24 Tháng Mười Hai, sau khi TT Eisenhower đã có lập trường dứt khoát, Ngoại
Trưởng Dulles khẳng định: “Đầu tư vào Việt Nam là đúng lý, dù chỉ là để mua
thêm thời gian giúp xây dựng sức mạnh ở những nơi khác trong vùng.” Rồi ông còn
chọn ngày để nhảy vào Việt Nam: “Chúng ta phải tiến hành như đã dự định, và ta
phải lao vào (take the plunge), bắt đầu từ ngày 1 Tháng Giêng, 1955.”
Trong thời gian
1955-1970: nói chung thì miền Nam nhờ Mỹ giúp để vừa bảo vệ cho chính mình vừa
giữ vai trò tiền đồn canh gác Trung Cộng (Mỹ gọi là Red China) khỏi tràn xuống
Biển Đông.
Khi đồng minh tháo chạy
Tới năm 1971 thì Mỹ đảo
ngược về chính sách. TT Nixon thay đổi lập trường, muốn biến đổi Trung Quốc từ
thù thành bạn. Ông thuyết phục Quốc Hội: “Chúng tôi đang chuẩn bị để thiết lập
một cuộc đối thoại với Bắc Kinh. Chúng ta không thể chấp nhận giáo điều của họ,
hoặc quan niệm rằng Trung Cộng phải thực hiện quyền bá chủ Á Châu. Nhưng chúng
tôi cũng không muốn áp đặt lên Trung Quốc một vị trí quốc tế phủ nhận các lợi
ích quốc gia hợp pháp của mình.” Rồi ông thêm: “Trung Quốc và Hoa kỳ chia sẻ nhiều
quyền lợi song hành và có thể cùng nhau hành động để làm cho đời sống của nhân
dân hai nước thêm phong phú.”
Khi Trung Quốc không còn
là thù địch đe dọa Mỹ và đã thành bạn đồng phường thì miền Nam Việt Nam hết còn
là tiền đồn của Thế Giới Tự Do. Mở cửa Bắc Kinh thì tất phải đóng cửa Sài Gòn.
Sau khi rời bỏ miền Nam
thì Mỹ cũng ngoảnh mặt đi khỏi Biển Đông vì khu vực này cũng hết còn bị đe dọa.
Tại sao? Vì Trung Quốc tuyên bố chính sách đối với các quốc gia trong vùng là
dung hòa, không quan tâm nhiều tới tranh chấp mà chỉ nhắm vào cộng tác để phát
triển “ zhu quan zai wo, ge zhi zheng yi, gong tong kai fa” – chủ quyền ở ta,
gạt bỏ tranh chấp, hợp tác khai thác.
Trung Quốc lật thế cờ, Mỹ
quay lại Việt Nam
Từ khi nối lại bang giao
với Mỹ, Trung Quốc đã phát triển, tiến bộ vượt bực về hết mọi mặt: quân sự,
kinh tế, tài chính nhờ vào kỹ thuật, tiền bạc, thị trường Mỹ. Ngày nay thì
Trung Quốc đã mạnh đủ để lật ngược thế cờ, ra mặt đối đầu với Mỹ. Ngay từ năm
2000 Trung Quốc đã có những hành động khiêu khích: tuyên bố chủ quyền về khu
vực khí đốt gần đảo Natura phía Ðông Bắc Sumatra (Nam Dương) và tranh chấp với
Nhật về quần đảo Senkaku ở Đông Hải. Tháng Tư, 2000 máy bay khu trục J-811 của
Trung Quốc đụng ngay vào máy bay trinh sát của Hải Quân Mỹ khoảng 70 dặm cách
đảo Hải Nam: phi công Trung Quốc tử nạn và máy bay của Mỹ buộc phải đáp xuống
Đảo Hải Nam. Toàn bộ phi đoàn bị bắt. Cho nên cũng vào năm 2000 Mỹ đã quay lại,
nhìn thật kỹ vào Việt Nam:
Tháng Mười Một, 2000, TT
Clinton là tổng thống đầu tiên sang Việt Nam kể từ chuyến viếng thăm Sài Gòn
của TT Nixon năm 1969.
Tháng Mười Một, 2006, đến
lượt TT Bush. Cả hai ông đều kêu gọi quên đi quá vãng và hướng về tương lai để
cùng chung nhau xây dựng hòa bình và thịnh vượng
Việt Nam trở về chỗ đứng
lịch sử
Tới năm 2011 thì Mỹ bắt
đầu thi hành chiến lược xoay trục về Á Châu, về Biển Đông. Và khi Mỹ trở về
Biển Đông thì Việt Nam lại trở về chỗ đứng lịch sử: vị trí chiến lược quan
trọng nhất tại khu vực này.
Tháng Mười Một, 2016, TT
Obama sang thăm Việt Nam. Trong dịp này ông tuyên bố “sẽ đưa mối quan hệ hợp
tác an ninh Việt-Mỹ lên tầm cao mới” và “với chuyến thăm này, chúng ta đã đặt
mối quan hệ Việt-Mỹ lên một nền tảng vững chắc hơn trong nhiều thập kỷ tới.”
Tháng Mười Một năm nay
(2017) thì Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong vùng Biển Đông, TT Trump đến
viếng thăm.
Khác với mục đích thăm
viếng Trung Quốc, Nhật, Nam Hàn, Phi Luật Tân, đến Việt Nam, TT Trump không
phải chỉ để thuyết pháp về “mậu dịch công bằng đối với Mỹ,” hay chống lại hiểm
họa Bắc Hàn. Mục đích chính là chiến lược: làm sao để Việt Nam nghiêng về Mỹ
trong bối cảnh mới theo sáng kiến có thể nói là lịch sử của ông: “giấc mơ Ấn
Độ-Thái Bình Dương.”
Tại Đà Nẵng-APEC 2017,
ông nói: “Tất cả có thể cùng nhau phát triển thịnh vượng trong tự do và hòa
bình.” Nhưng xét ra cho kỹ thì ta thấy rằng “cùng nhau phát triển thịnh vượng”
thì dễ nhưng “trong tự do và hòa bình” thì khó. Khó vì Trung Quốc gây hấn ngày
một mạnh. Bởi vậy, quyền lợi hỗ tương quan trọng nhất đối với Việt Nam và Hoa
Kỳ là ngăn chận sự bành trường mau lẹ của Trung Quốc.
Nếu như trong chuyến thăm
Việt Nam ông Obama chỉ khéo léo thúc đẩy Việt Nam qua việc nhắc lại câu thơ của
Lý Thường Kiệt, rằng:
“Sông núi nước Nam vua
Nam ở” thì ông Trump – con người bộc trực, nghĩ sao nói vậy – đã nhắc rằng:
“Hai Bà Trưng đã đánh
thức tinh thần của người dân vùng đất này. Đó là lần đầu tiên người dân Việt
Nam đứng lên đấu tranh cho sự độc lập và niềm tự hào của các bạn.”
Trong hội trường gồm lãnh
đạo của cả 21 thành viên và ngay trước mặt ông Tập Cận Bình mà nhắc đến như vậy
thì cũng không phải là chỉ để nói bâng quơ. Chắc cố vấn ông Trump cũng đã cho
ông biết câu chuyện về người thủ tướng lỗi lạc nhất của Trung Quốc là Chu Ân
Lai đã nói về Hai Bà Trưng (như chúng tôi đã đề cập trong bài “Chu Ân Lai và
Hoàng Sa”): “Hai nghìn năm trước đây, Trung Quốc đã xâm lược Việt Nam, và Trung
Quốc đã bị đánh bại. Lại bị đánh bại bởi hai người đàn bà, hai nữ tướng.”
Câu hỏi được đặt ra là
liệu “Việt Nam có được thuyết phục hay không?” Ngoài áp lực nặng nề, khuyến dụ,
răn đe từ phương Bắc, lại cỏn vấn đề khả tín của Hoa Kỳ. Chắc rằng Việt Nam
cũng đã có câu hỏi: làm sao chúng tôi tin được rằng các ông sẽ không bỏ rơi
chúng tôi như các ông đã tháo chạy khỏi miền Nam? Đây là vấn đề nhức nhối nhất
cho nước Mỹ không những đối với Việt Nam mà còn đối với các quốc gia khác trong
vùng.
Để trả lời phần nào câu
hỏi này thì TT Obama đã xác nhận: “Khi đến Việt Nam, tôi ý thức được quá khứ, ý
thức được lịch sử khó khăn, nhưng mặt khác cũng hướng đến tương lai, đến sự
thịnh vượng, đến những mục tiêu an ninh và ổn định để hai nước có thể thúc đẩy
lẫn nhau.” Rồi một cách tế nhị, như để cam kết sự chung thủy, ông trích truyện
Kiều:
“Rằng trăm năm cũng từ
đây.
Của tin gọi một chút này làm ghi”
Của tin gọi một chút này làm ghi”
TT Trump thì không mấy
văn hoa, phát biểu tại Hà Nội, ông đặt thẳng vấn đề quyền lợi hỗ tương: “Chúng
ta đã gắn kết dần với nhau để tìm được những mục tiêu chung, những lợi ích
chung. Và đó là điều đang diễn ra. Chúng tôi tới đây hôm nay để tái khẳng định
những gắn kết đó.” Rồi Thông Cáo Chung cũng nhắc lại việc “mở rộng quan hệ đối
tác toàn diện giữa hai nước trên cơ sở… các lợi ích và mong muốn chung.” Ta có
thể giải thích rộng ra điều Trump muốn nói: lợi ích quan trọng nhất của cả hai
bên Việt-Mỹ là ngăn chận tham vọng của Trung Quốc. Mà tham vọng này thì từ bây
giờ sẽ không bao giờ chấm dứt, cho nên chúng tôi sẽ không bao giờ làm cái lầm
lỡ thứ hai là ôm ông Trung Quốc vào lòng (và bỏ rơi Việt Nam nữa). Đầu thập kỷ
1970 chúng tôi ôm Trung Quốc mà không e ngại vì lúc ấy nước này còn đứng vào
hàng nghèo nhất thế giới, chưa mạnh về quân sự: năm 1969 xuýt nữa bị Liên Xô
tấn công nguyên tử nếu không có sự can thiệp của Mỹ.
Thật vậy, tất cả cũng chỉ
là quyền lợi: chẳng có bạn bè vĩnh viễn (và cũng chẳng có kẻ thù vĩnh viễn) mà
chỉ có quyền lợi vĩnh viễn, như Lord Palmerston, thủ tướng Anh đã từng nhấn
mạnh (xem KĐMNV, Phần Kết).
Về quyền lợi thì phía
Việt Nam cũng đã biết rõ hai điều: thứ nhất, từ Thế Chiến II, không một nước
nào từ Âu tới Á đã giầu mạnh lên được mà không phải nhờ Mỹ; và thứ hai, chỉ có
Mỹ mới đối lại được với Trung Quốc.
Để đáp lại thịnh tình của
TT Trump trong chuyến công du này, Việt Nam cũng đã có ba hành động tương đối
là tượng trưng:
1- Về kinh tế: ký hợp
đồng $12 tỷ mua sản phẩm của Mỹ;
2- Về quân sự: “hoan
nghênh hàng không mẫu hạm Mỹ lần đầu tiên tới thăm một hải cảng (Cam Ranh) của
Việt Nam trong năm 2018” và “khẳng định kế hoạch hợp tác quốc phòng Việt-Mỹ
trong giai đoạn 2018-2020.” (Ông Trump nhấn mạnh sẽ bắt đầu ngay việc sửa soạn
chiến thuật này).
3- Về chính trị, ngoại
giao: đã sắp xếp mời ông Trump đến Hà Nội, dự yến tiệc, phát biểu, ra thông cáo
chung một ngày trước khi ông Tập tới (cũng từ Đà Nẵng) tuy dù đón tiếp ông Tập
long trọng hơn ông Trump nhiều.
Điểm thứ 2 và 3: nghe thì
đơn giản nhưng là những điểm rất nhạy cảm đối với ông Tập. Một điều đáng chú ý
là về phía người dân thì chỉ hoan hô ông Trump mà không để ý tới ông Tập. Để
biết rõ hơn liệu Việt Nam có được thuyết phục hay không, ta phải theo dõi những
hành động có thực chất của cả hai bên trong những ngày tháng sắp tới.
Nguồn: Nguyễn Tiến
Hưng/Người Việt
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét