Các đời chúa Nguyễn mở rộng lãnh thổ –
P1:
Đánh Chiêm Thành
Trần Hưng
Các đời chúa Nguyễn khởi đầu từ khi
Nguyễn Hoàng đến trấn thủ vùng Thuận Hóa, Quảng Nam. Phần lãnh địa của chúa
Nguyễn khi đó chỉ kéo dài đến Quảng Nam. Thế nhưng các đời chúa Nguyễn thông
qua khai khẩn đất đai tiến về phía Nam, đã khiến lãnh thổ Đại Việt dần dần mở
rộng.
Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê
lập ra nhà Mạc, một số trung thần với nhà Lê chạy sang nước láng giềng lánh
nạn, chờ cơ hội trở về khôi phục nhà Lê, trong số đó có Hữu Vệ Điện Tiền Tướng
quân An Thanh Hầu Nguyễn Kim.
Nguyễn Kim chạy sang Ai Lao (ngày nay
thuộc Lào, giáp với các tỉnh miền Trung của Việt Nam) được vua Xạ Đẩu giúp đỡ,
cho mượn đất Sầm Châu để dựng bản doanh, chiêu mộ quân sỹ. Nguyễn Kim tìm con
cháu nhà Lê, cuối cùng tìm được Hoàng thất Lê Duy Ninh, tôn lên làm vua, hiệu
là Lê Trang Tông.
“Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”
Sau khi đánh dẹp nhà Mạc về phương Bắc,
vua Lê Trang Tông lên ngôi, phong cho Nguyễn Kim là Thái Sư, nắm hết quyền lực.
Dưới trướng của Nguyễn Kim có viên tướng là Trịnh Kiểm lập được nhiều công lao,
vì thế Nguyễn Kim quyết định gả con gái của mình cho Trịnh Kiểm.
Năm 1545 Nguyễn Kim bị Quan Tổng Trấn
nhà Mạc là Dương Chấp Nhất trá hàng rồi đầu độc giết chết. Lúc này mọi quyền
lực nhà Lê đều lọt vào tay Trịnh Kiểm.
Tuy nhiên các tướng nhà Lê cho rằng
người nắm quyền bính phải là con trưởng của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông, vì thế
việc Trịnh Quyền nắm quyền bính được xem chỉ là tạm thời, rồi sẽ phải trao
quyền lại cho Nguyễn Uông.
Nguyễn Uông trở thành cái gai trong mắt
Trịnh Kiểm, và đột nhiên một hôm bị chết không rõ nguyên nhân. Em của Nguyễn
Uông là Nguyễn Hoàng (tức con thứ của Nguyễn Kim) linh cảm đây là âm mưu diệt
cỏ tận gốc của Trịnh Kiểm, người tiếp theo chắc chắn là mình, nên nội vã đến
tìm gặp cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm xin chỉ dạy.
Trạng Trình đáp rằng “Hoành sơn nhất
đái, vạn đại dung thân”, nghĩa là “Hoành sơn một dãy, dung thân ngàn đời”.
Dãy Hoành Sơn thuộc địa phận Thuận Hóa,
nên Nguyễn Hoàng liền nhờ chị ruột là Ngọc Bảo (tức vợ Trịnh Kiểm) xin anh rể
cho mình được trấn thủ ở Thuận Hóa. Trịnh Kiểm cho rằng Thuận Hóa xa xôi, đất
đai cằn cỗi, để Nguyễn Hoàng đi sẽ yên tâm hơn không có ai tranh giành với mình
nên đồng ý cho Nguyễn Hoàng đi trấn thủ luôn cả vùng đất cực Nam bấy giờ là
Thuận Hóa và Quảng Nam, lệ mỗi năm phải nộp thuế là 400 cân bạc, 500 tấm lụa.
Tháng 10/1558, Nguyễn Hoàng cùng gia
quyến và các binh tướng thân tín đi về phương Nam, dừng chân ở cửa Việt Yên
(nay là Cửa Việt). Nguyễn Hoàng cho quân đóng trại ở gò Phù Sa, xã Ái Tử, huyện
Đăng Xương (nay thuộc huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị).
Nơi đây chưa được khai phá nên rất hoang
sơ nghèo nàn, là nơi tụ tập của giặc cỏ và cướp biển. Đóng quân ở đây Nguyễn
Hoàng cùng binh sỹ phải đối mặt với cướp cũng như lực lượng quân Chiêm Thành,
Chân Lạp thường xuyên đánh phá.
Tuy nhiên điều thuận lợi là các quan địa
phương đều chào đón Nguyễn Hoàng. Tổng trấn Thuận Hóa là Tống Phướng Trị vái
chào Nguyễn Hoàng đồng thời dâng lên bản đồ và sổ sách trong xứ. Người dân nơi
đây cũng vui mừng chào đón một vị quan lớn từ kinh thành đến. Nguyễn Hoàng được
tôn là chúa Nguyễn.
Đánh bại quân Chiêm Thành, khai khẩn về
phía Nam
Nguyễn Hoàng đưa ra các chính sách khai
khẩn, cho người nào khai khẩn được bao nhiêu thì được sở hữu đất ấy, nhờ thế mà
đất đai cứ dần dần được mở rộng. Công cuộc khai khẩn của Nguyễn Hoàng thành
công nhờ sự giúp đỡ của nhiều người dưới trướng, đặc biệt là thái phó Nguyễn Ư
Dĩ.
Năm 1578, Chiêm Thành đưa quân đến tiến
đánh, Lương Văn Chánh vâng lệnh chúa Nguyễn cầm quân đánh chặn. Sau khi đánh
bại quân Chiêm, Lương Chánh Văn đưa quân tiến vào Hoa Anh đánh thành An Nghiệp,
đây là một trong những kinh thành đồ sộ và kiên cố nhất trong lịch sử Chăm Pa.
Dù thế quân chúa Nguyễn vẫn hạ được thành, đẩy quân Chăm Pa về phía Nam.
Năm 1597, Nguyễn Hoàng cùng 4.000 lưu
dân khai khẩn vùng đất mới lấy được từ đèo Cù Mông (bắc Phú Yên) đến đèo Cả
(bắc Khánh Hòa), nhờ đó mà hình thành nên những ngôi làng đầu tiên ở sông Đà
Diễn, sông Cái.
Năm 1611, quân Chiêm Thành lại quấy rối
vùng biên giới Hoa Anh, chúa Nguyễn cử Văn Phong đánh bại quân Chiêm đồng thời
đuổi quân Chiêm Thành về phía Nam đèo Cả, chiếm được vùng đất Hoa Anh, đồng
thời đổi tên Hoa Anh thành phủ Phú Yên gồm hai huyện Tuy Hòa và Đồng Xuân.
Chúa Nguyễn cũng cử hai tướng Vũ Thì An
và Vũ Thì Trung chiếm hữu Bãi Cát Vàng trên biển Đông (tên gọi của quần đảo
Hoàng Sa).
Năm 1613 chúa Nguyễn Hoàng bệnh nặng,
biết mình sắp mất liền cho gọi Thụy quận công Nguyễn Phúc Nguyên từ Quảng Nam
về để kế vị và căn dặn:
“Nếu Bắc tiến được thì tốt nhất, bằng
không giữ vững đất Thuận Quảng và mở mang bờ cõi về phía Nam.
Đất Thuận Quảng này phía Bắc có núi
Hoành Sơn, sông Linh Giang, phía Nam có núi Hải Vân và Bi Sơn, thật là đất của
người anh hùng dụng võ. Vậy con phải biết thương yêu dân, luyện tập binh sĩ để
xây dựng cơ nghiệp muôn đời.”
Ông cũng dặn dò các cận thần rằng: “Ta
với các ông cùng nhau cam khổ đã lâu, muốn dựng lên nghiệp lớn. Nay ta để gánh
nặng lại cho con ta, các ông nên cùng lòng giúp đỡ, cho thành công nghiệp”.
Chúa Nguyễn Hoàng mất, thọ 89 tuổi, ông
để lại một vùng đất cho con cháu từ đèo Ngang tới núi Đá Bia (Thạch Bi Sơn),
gần đèo Cả, phía nam Phú Yên.
Ban đầu lãnh thổ của Chúa Nguyễn chỉ đến
vùng Quảng Nam, trong đó Thuận Hóa và Quảng Nam chưa được khai khẩn. Thế nhưng
chúa Nguyễn Hoàng khi đến nơi đây không chỉ giúp khai khẩn hai vùng này, mà
lãnh thổ được mở thêm vùng Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên. Tiền đề để sau này
lãnh thổ được tiếp tục mở rộng về phương nam.
Các đời chúa Nguyễn mở rộng lãnh thổ – P2:
Cuộc di dân lịch sử
Tương truyền lúc mang thai, mẹ chúa
Nguyễn Phúc Nguyên là phu nhân Nguyễn Thị nằm mơ thấy có vị Thần đưa cho một tờ
giấy trên có đề chữ “Phúc”.
Khi tỉnh dậy, bà kể lại cho mọi người
giấc mơ của mình. Mọi người chúc mừng bà và đề nghị đặt tên đứa bé là Phúc.
Nhưng bà nói rằng nếu đặt tên là Phúc thì chỉ mình đứa bé hưởng, nên bà muốn
lấy chữ “Phúc” làm tên lót, ẩn chứa mong muốn rằng đứa bé sau này sẽ tạo phúc
cho muôn dân.
Năm 1613, Nguyễn Phúc Nguyên chính thức
lên kế vị. Ông ban hành rất nhiều chính sách về dân sự nhằm xây dựng chính
quyền Đàng Trong hùng mạnh, cũng như ổn định cuộc sống dân chúng. Người dân tin
yêu gọi ông là Sãi Vương, chúa Sãi, chúa Bụt hay Phật chúa.
Sách “Đại Nam thực lục” ghi chép lại
rằng:
Nguyễn Phúc Nguyên cho sửa thành lũy,
đặt quan ải, vỗ về quân dân, trong ngoài đâu cũng vui phục, bấy giờ người ta
gọi là Chúa Phật. Từ đấy mới xưng quốc tính là họ Nguyễn Phước hay Nguyễn Phúc.
Hội An trở thành cảng tiêu biểu ở châu
Á, nổi tiếng trên thế giới
Chúa Nguyễn cho mở hải cảng ở Quảng Nam
để thông thương với nước ngoài, trong đó cảng Hội An là lớn nhất, đồng thời
viết thư mời các thương nhân nước ngoài đến buôn bán. Rất nhiều thương gia Nhật
Bản và phương Tây đã đến giao thương, biến Hội An thành đô thị, hải cảng quốc
tế tiêu biểu ở châu Á.
Thời gian này Hội An là đô thị rất trù
phú, được nhiều nơi trên thế giới biết đến, có rất nhiều khu phố dành cho
thương gia nước ngoài.
Một người Ý là Christoforo Borri cư trú
ở Hội An vào năm 1618 đã mô tả về Hội An như sau:
“Hải cảng đẹp nhất, nơi tất cả người
ngoại quốc đều tới và cũng là nơi có hội chợ danh tiếng chính là hải cảng thuộc
tỉnh Quảng Nam”.
“Người Hoa và Nhật Bản là những thương
nhân chủ yếu của chợ phiên, năm nào cũng mở và kéo dài trong bốn tháng. Người
Nhật thường đem lại 4, 5 vạn nén bạc, người Trung Hoa thì đi một thứ thuyền
buồm đem lại nhiều tơ lụa tốt và sản vật đặc biệt của họ”.
“Do chợ này mà Quốc vương thu được số
tiền thuế lớn, toàn quốc nhờ vậy cũng được nhiều lợi ích”.
Quan hệ chúa Trịnh – chúa Nguyễn
Năm 1620 chúa Trịnh vô cớ gây chiến nên
chúa Nguyễn quyết định hoàn toàn đoạn tuyệt với việc nộp cống thuế cho Đàng
Ngoài.
Năm 1623, Trịnh Tùng chết, các con tranh
ngôi Chúa mà làm loạn Bắc Hà. Nhiều người hiến kế cho chúa Nguyễn nhân cơ hội
này tiến đánh chúa Trịnh, với lý do 3 năm trước chúa Trịnh vô cớ đưa quân tiến
đánh vào Đàng Trong. Thế nhưng chúa Nguyễn Phúc Nguyên nói rằng: “Ta muốn nhân
cơ hội này nổi nghĩa binh để phò vua Lê, nhưng đánh lúc người có tang là bất
nhân, thừa lúc người lâm nguy là bất vũ. Huống chi ta với Trịnh có nghĩa thông
gia”.
Hào kiệt khắp nước nghe được câu này của
ông liền đi theo rất đông, trong đó nổi tiếng có Đào Duy Từ, Nguyễn Cư Trinh,
giúp Đàng Trong ngày càng hùng mạnh, cư dân đi xuống phía Nam đến tận vùng Nam
Bộ.
Tháng 3/1627, chúa Trịnh Tráng thống
lãnh 20 vạn đại quân theo 2 đường thủy bộ tiến đánh Đàng Trong của chúa Nguyễn
Phúc Nguyên, hội quân ở cửa biển Nhật Lệ. Chúa Sãi cử các tướng Nguyễn Hữu Dật,
Nguyễn Phúc Vệ và Nguyễn Phúc Trung đón đánh.
Quân chúa Trịnh lợi dụng ưu thế về số
lượng tấn công, nhưng không sao chọc thủng được phòng tuyến quân chúa Nguyễn.
Nhờ mở cửa giao thương với phương Tây mà quân chúa Nguyễn có được đại bác của
Bồ Đào Nha uy lực rất mạnh, đạn bắn rất ổn định, hầu như không bị tắc, tốc độ
bắn nhanh hơn, khoảng cách bắn cũng xa hơn so với đại bác cũ, khiến 20 vạn đại
quân Trịnh Tráng không thể làm gì được.
Được Đào Duy Từ hiến kế, năm 1630 chúa
Nguyễn Phúc Nguyên trả lại sắc lệnh cho chúa Trịnh Tráng đánh dấu mốc chuyển từ
chính quyền địa phương thành chính quyền độc lập.
Tự trang bị đại bác cùng quân đội hiện
đại
Nhận thấy uy lực của đại bác Bồ Đào Nha,
và nhằm xây dựng quân đội hùng mạnh, chúa Nguyễn đã mời cha con người Bồ Đào
Nha Jean De La Croix từ Hội An ra Huế giúp mở xưởng đúc vũ khí đạn dược. Năm
1631, chúa Nguyễn mở cơ sở đúc súng đại bác cùng trường bắn.
Chúa Nguyễn Phúc Nguyên cũng xây dựng
quân đội Hoàng Sa nhằm bảo vệ lãnh thổ trên biển cùng quần đảo Hoàng Sa. GS.TS
Nguyễn Quang Ngọc (Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển) trong tham luận
tại Hội thảo về Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn năm 2008 đã phát biểu rằng:
“Chúa Nguyễn Phúc Nguyên chính là người đã sáng tạo ra một hình thức khai chiếm,
xác lập và thực thi chủ quyền trên các vùng quần đảo giữa Biển Đông hết sức độc
đáo là đội Hoàng Sa”.
Cuộc di dân lịch sử của người Việt
Do phải đối phó với sức mạnh từ Xiêm La
(Thái Lan ngày nay), Quốc Vương Cao Miên muốn đặt quan hệ thông gia với chúa
Nguyễn, từ đó công nữ Ngọc Vạn đã trở thành Hoàng hậu của vua Chey Chettha II.
Chúa Nguyễn gửi quân cùng vũ khí sang giúp Cao Miên đẩy lui các cuộc xâm lược
của Xiêm La. Quân chúa Nguyễn dùng đại pháo do người Bồ Đào Nha giúp đúc được
khiến quân Xiêm La kinh hoàng phải rút lui.
Chúa Nguyễn cũng đã thương lượng với vua
Chey Chettha II và được nhượng lại 1 dinh điền ở Mô Xoài (gần Bà Rịa ngày nay),
đồng thời chúa Nguyễn được phép lập hai thương điểm là Prei Nokor (thuộc khu
Chợ Lớn, Sài Gòn sau này) và Kas Krobey (khu vực Bến Nghé, Sài Gòn sau này) để
thu thuế.
Đồng thời người Việt ở Đàng Trong được
phép đến sinh sống ở vùng Thủy Chân Lạp (tức Đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam
và miền Nam Campuchia ngày nay). Chúa Nguyễn cũng cho quân đến đóng ở vùng Prei
Nokor (tức Sài Gòn, Biên Hòa, Bà Rịa)
của Chân Lạp nhằm bảo vệ người Việt làm ăn buôn bán sinh sống, đồng thời giúp
Cao Miên khi có biến.
Nhờ đó chỉ trong một thời gian ngắn
người Việt xuất hiện rất đông ở Cao Miên, khu vực ngày này là Đồng bằng sông
Cửu Long, Sài Gòn, Biên Hòa, Bà Rịa. Miền Nam Campuchia cũng rất đông người
Việt sinh sống. Đây là tiền đề quan trọng cho việc mở rộng lãnh thổ về sau này.
Nguyễn Cư Trinh, người phò tá cho chúa
Nguyễn Phúc Nguyên đưa người Việt vào Nam Bộ đã có lời tổng kết rằng:
“Đời trước lập Gia Định, tất trước mở xứ
Mỗi Xoài, rồi mở xứ Đồng Nai, để cho quân dân hoàn tụ, rồi mới mở xứ Sài Gòn,
thế là lấy ít đánh nhiều, lấn dần như tằm ăn.” (trích Phủ Biên tạp lục của Lê
Qúy Đôn).
Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên qua đời vào
ngày 19/11/1635, hưởng thọ 73 tuổi. Lăng mộ táng tại Sơn Phận, huyện Quảng
Điền; sau cải táng về vùng núi Hải Cát, Hương Trà, Thừa Thiên. Tên lăng là
Trường Diễn.
Chúa Nguyễn Phúc Nguyên không chỉ hoàn
thành tâm nguyện của cha mở rộng cương vực lãnh thổ về phía Nam, mà còn phát
triển kinh tế, mở cảng giao thương với thế giới. Cảng Hội An được xem là lớn và
tiêu biểu nhất châu Á lúc bấy giờ, nổi tiếng trên thế giới. Quân đội của chúa
Nguyễn cũng được xây dựng hùng mạnh với vũ khí hiện đại, không chỉ đánh bại đội
quân chúa Trịnh, mà còn giúp Cao Miên đánh bại Xiêm La.
Quân đội cũng theo chân người Việt di cư
xuống tận vùng Nam Bộ nhằm bảo vệ cư dân sinh sống, giúp cuộc di dân lịch sử
của người Việt xuống phương Nam thành công tốt đẹp.
Các đời chúa Nguyễn mở rộng lãnh thổ – P3:
Lãnh thổ đến Gia Định
Năm 1635, chúa Nguyễn Phúc Nguyên qua
đời, con thứ là Nguyễn Phúc Lan lên thay, hiệu là Thượng Vương nên còn được gọi
là Chúa Thượng. Chúa Nguyễn Phúc Lan không có đóng góp gì cho việc mở mang bờ
cõi lãnh thổ như các đời Chúa trước đó. Năm 1648 chúa Nguyễn Phúc Lan mất, con
thứ là Nguyễn Phúc Tần lên thay, thường được gọi là Chúa Hiền. Chúa Hiền đã có
công trong việc mở rộng lãnh thổ Đại Việt hơn nữa.
Đánh bại và xâm chiếm Chiêm Thành, mở
rộng lãnh thổ đến tỉnh Khánh Hòa
Năm 1653, Chiêm Thành cho quân tấn công
quấy nhiễu Đại Việt ở Phú Yên. Chúa Hiền sai Hùng Lộc đưa quân đến Phú Yên đánh
bại quân Chiêm Thành, đồng thời vượt đèo Hổ Dương (núi Thạch Bi) đuổi theo quân
Chiêm đến tận kinh thành nước Chiêm. Vua Chiêm là Po Nraup chạy trốn khỏi kinh
thành rồi sai con là Xác Bà Ân dâng thư xin hàng.
Chúa Hiền đồng ý cho hàng, lấy sông Phan
Rang làm biên giới, sáp nhập hai Phủ Thái Khang và Diên Ninh (thuộc tỉnh Khánh
Hòa ngày nay), mở rộng thêm biên giới lãnh thổ.
Sáp nhập Đồng Nai và Gia Định vào lãnh
thổ
Thời kỳ này, tình hình Cao Miên rất rối
ren. Trong hoàng tộc anh em chú bác đánh lẫn nhau nhằm tranh giành ngôi Vua.
Hai con của vị vua đã quá cố là Ang Sur
và Ang Tan dấy binh chống lại vua Ramathipadi I (Nặc Ông Chân) nhưng thất bại.
Vậy nên hai người này tìm đến thái hậu Ngọc Vạn (tức con gái chúa Nguyễn Phúc
Nguyên), được Thái hậu hứa sẽ giúp đỡ cầu cứu chúa Nguyễn Phúc Tần.
Chúa Nguyễn liền cho tướng Nguyễn Phúc
Yến đưa quân đến Mỗi Xuy (nay thuộc huyện Phúc An, tỉnh Bà rịa Vũng tàu). Quân
Chúa Nguyễn tiến được vào thành, bắt vua Ramathipadi I.
Nhờ sự can thiệp của chúa Nguyễn mà Ang
Sur được làm Quốc vương, xưng là Barom Reachea V, đóng tại Long Úc (Oudong);
còn Ang Nan (Nặc Nộn) làm Phó vương đóng tại thành Sài Gòn ngày nay.
Nhờ sự can thiệp của chúa Nguyễn mà Ang
Sur được làm Quốc vương, xưng là Barom Reachea V, đóng tại Long Úc (Oudong);
còn Ang Nan (Nặc Nộn) làm Phó vương đóng tại thành Sài Gòn ngày nay.
Hai Vương của Cao Miên thần phục Chúa
Nguyễn, đồng ý cống nạp theo định kỳ và hoàn toàn phụ thuộc vào Chúa Nguyễn.
Thời kỳ này cũng chứng kiến việc cư dân Việt đến Cao Miên sinh sống rất đông,
kiểm soát rất nhiều vùng đất.
Lúc này tại Trung Hoa, nhà Thanh lật đổ
nhà Minh lập ra triều đại mới. Năm 1679, một số quan tướng nhà Minh không theo
nhà Thanh đem 3.000 người đi trên 50
thuyền đến Đàng Trong, dâng sớ xin được làm dân xứ Việt.
Chúa Hiền thấy họ cùng quẫn mà đến, lại
tỏ lòng trung thực mong được an cư lạc nghiệp. Ông nhận thấy nhiều vùng đất của
Cao Miên ở phía Nam màu mỡ nhưng chưa được khai phá nên giao cho họ khai hoang
đất đai để ở, phong cho họ quan tước rồi cho đến vùng Gia Định, Nông Nại (Đồng
Nai ngày nay), trấn Định Tường (thuộc Mỹ Tho), Bàn Lân, Lộc Đã (tức Biên Hòa,
Đồng Nai ngày nay). Tại những vùng này họ mở mang đất đai, lập phố chợ, giao
thông buôn bán. Dần dần các tàu thuyền người Hoa, người phương Tây, Indonesia
đến đây buôn bán ngày càng tấp nập.
Với việc sáp nhập thêm Khánh Hòa, Đồng
Nai, Gia Định, lãnh thổ Đại Việt năm 1679 thay đổi như sau:
Các đời chúa Nguyễn mở rộng lãnh thổ – P4:
Chiêm Thành quy thuận, Cao Miên dâng đất
Năm 1687, chúa Nguyễn Phúc Tần mất.
Nguyễn Phúc Thái lên ngôi, thời kỳ này lãnh thổ Đàng Trong không có gì thay
đổi. Năm 1691, Nguyễn Phúc Chu lên ngôi nối tiếp các đời chúa Nguyễn trước đó,
mở rộng lãnh thổ hơn về phương Nam.
Nguyễn Phúc Chu sinh vào tháng 5 (âm
lịch) năm Ất Mão 1675, ông là con cả của Nghĩa vương Nguyễn Phúc Thái và bà
Tống Thị Lĩnh (người ở Tống Sơn, Thanh Hóa).
Sách Đại Nam thực lục có ghi chép rằng:
“Trước kia, năm Giáp dần, mùa thu, ở
phương Tây Nam trên trời mở ra một lỗ, có mây sắc vận quanh, ở giữa một luồng
ánh sáng rực trời tỏa ngay vào chỗ nhà mẫu hậu ở, người thức giả cho là điềm
Thánh. Năm sau chúa đúng kỳ giáng sinh, mùi thơm nức nhà”.
Cũng theo sách Đại Nam thực lục thì thuở
nhỏ Nguyễn Phúc Chu không chỉ say mê đèn sách mà còn chăm chỉ luyện võ thuật,
lớn lên không chỉ văn hay mà võ cũng rất giỏi.
Dùng Phật Pháp giáo hóa muôn dân, xã hội
cực thịnh
Khi lên ngôi Nguyễn Phúc Chu mới 16
tuổi. Ngay năm đó ông cho giảm một nửa thuế ruộng cho dân. Người thời bấy giờ
gọi ông là Quốc Chúa.
Mới lên ngôi Quốc Chúa đã chiêu hiền đãi
sĩ, loại bỏ nịnh thần, dùng người có chí khí, nghe lời người ngay thẳng bãi bỏ
thói xa hoa lãng phí.
Là nguời mộ đạo, chúa Nguyễn Phúc Chu
chủ trương hồng dương Phật Pháp. Ông cho xây dựng một loạt chùa miếu; mở hội
lớn ở chùa Thiên Mụ, Mỹ Am; phát tiền gạo cho người nghèo.
Quốc Chúa dùng Phật Pháp để giáo hóa
muôn dân, khiến đạo đức thăng hoa, xã tắc ổn định, người dân có cuộc sống sung
túc. Đây cũng là nền tảng giúp cho các cuộc Nam tiến, mở rộng lãnh thổ thành
công.
Năm 1710, nhân ngày Phật đản, Chúa cho
đúc chuông chùa Thiên Mụ nặng 2.021 kg, cao 2,5 m, đường kính 1,2 m. Tiếng vang
của chuông bao phủ khắp kinh thành, tiếng chuông cũng đánh dấu giai đoạn phát
triển đến cực thịnh ở Đàng Trong, vì một xã hội có niềm tin tín ngưỡng thì sẽ
ổn định, người người đều quy thuận.
Sáp nhập Bình Thuận, Ninh Thuận, Hà
Tiên, đảo Phú Quốc vào lãnh thổ
Từ năm 1690 đến 1692, vua Chiêm Thành là
Bà Tranh thường cho quân vượt biên giới đến đốt phá giết hại dân Việt ở hai Phủ
Thái Khang và Diên Ninh (thuộc tỉnh Khánh Hòa ngày nay). Chúa Nguyễn Phúc Chu
sai Nguyễn Hữu Cảnh đem binh đi đánh.
Nguyễn Hữu Cảnh đánh bại quân Chiêm
Thành, đuổi theo tận đến kinh thành nước Chiêm, bắt được vua Chiêm giải về Phú
Xuân.
Chúa Nguyễn cho sáp nhập đất Chiêm Thành
vào lãnh thổ (nay là tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận), đặt tên là trấn Thuận Thành,
lập ra phủ Bình Thuận.
Sau khi Bà Tranh chết tại Huế, em là Kế
Bà Tử nghe theo một người Mãn Thanh là A Ban tập hợp quân nổi lên. Năm 1693,
lợi dụng lúc Nguyễn Hữu Cảnh đã đi Tây chinh, quân Chiêm đánh bại quân chúa
Nguyễn, quân cứu viện từ Bà Rịa đến cũng bị đánh bại.
Quân Chiêm đánh chiếm lại Phan Rí, rồi
bao vây Phan Rang. Quân chúa Nguyễn ít hơn nên giữ chặt thành khiến quân Chiêm
phải lui binh.
Năm 1694, A Ban lại cho quân đến vây
Phan Rang. Quân Chúa Nguyễn từ Bình Khang đến ứng cứu khiến A Ban phải lui
binh.
Nhận thấy người Mãn Thanh là A Ban chính
là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến người Chiêm nổi dậy, chúa Nguyễn cho quân tập
trung đánh A Ban, khiến A Ban thua trận phải chạy trốn.
Lúc này để giữ yên người Chiêm, tránh họ
nổi loạn, chúa Nguyễn đã đồng ý ký hòa ước cho khôi phục vương quốc Chăm Pa với
hình thức là một khu tự trị với tên là Thuận Thành Trấn, trực thuộc lãnh thổ
Đàng Trong. Chúa Chăm Pa được gọi là Trấn Vương.
Sau đó, mối quan hệ với Chăm Pa diễn ra
tốt đẹp, người Chăm Pa không còn nổi loạn nữa.
Chúa Nguyễn Phúc Chu có nhiều động thái
để khẳng định và cai quản các cùng đất phía Nam như: Đặt phủ Bình Thuận cai
quản các vùng đất của người Chăm Pa là Phan Rang, Phan Rí; đặt phủ Gia Định;
chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phúc Long, dựng dinh Trấn Biên
(Biên Hòa); lấy xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, lập xã
Minh Hương.
Tháng 8/1708, một người Hoa tên là Mạc
Cửu đang khai phá ở vùng Hà Tiên dâng thư lên chúa Nguyễn xin được quy thuận, sáp
nhập vùng Hà Tiên, đảo Phú Quốc vào lãnh thổ Đàng Trong. Chúa nhận lời và phong
Mạc Cửu làm Thống binh trấn giữ vùng Hà Tiên.
Cao Miên dâng vùng đất Mỹ Tho và Vĩnh
Long
Mùa xuân năm 1698, vua Nặc Yêm của Cao
Miên cho quân đi cướp bóc dân buôn người Việt. Triều đình liền sai Nguyễn Hữu
Cảnh đi kinh lược đất Cao Miên. Vua Nặc Yêm không chống cự được phải đầu hàng
và xin được cống nạp như cũ.
Nguyễn Hữu Cảnh lấy đất Nông Nại đặt làm
phủ Gia Định, lập đất Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng nên dinh Trấn Biên,
lập xứ Sài Côn làm huyện Tân Bình, lập dinh Phiên Trấn. Ông sắp đặt các quan
chức địa phương để cai quản vùng đất này.
Sách Đại Nam liệt truyện ghi chép lại
rằng:
“Nguyễn Hữu Cảnh đã chiêu mộ dân phiêu
tán từ châu Bố Chánh (nay là Quảng Bình) trở vào Nam vào đất ấy (tức đất Trấn
Biên và Phiên Trấn), rồi đặt xã thôn, phường ấp, định ngạch tô thuế và ghi tên
vào sổ đinh […] đất đai mở rộng hơn ngàn dặm, dân số có thêm bốn vạn hộ.”
Năm 1725, chúa Nguyễn Phúc Chu qua đời,
Nguyễn Phúc Thụ lên thay, người thời đấy gọi là Ninh vương (tục gọi là chúa
Ninh). Ông cũng là người mộ đạo, tiếp tục chí hướng của cha hồng dương Phật
Pháp, giúp Đàng Trong duy trì giai đoạn cực thịnh.
Năm 1729, một người gốc Lào là Prea Sot
sách động người Cao Miên tàn sát người Việt ở vùng Banam, rồi cho quân quấy
nhiễu Sài Gòn.
Tướng Trương Phước Vĩnh sai cai cơ Đạt
Thành ra ngăn lại nhưng thất bại. Sau đó Giám quân cai đội Nguyễn Cửu Triêm đi
đánh, quân Cao Miên thua chạy về Vũng Gù (thuộc Mỹ Tho ngày nay). Quân chúa
Nguyễn tiến tiếp vào Vũng Gù đánh bại loạn quân của Cao Miên.
Lúc này vua Cao Miên sợ bị vạ lây, liền
gửi thư giải thích rằng mọi việc đều do Prea Sot gây ra, đồng thời xin đem Peam
Mesar (Mỹ Tho) và Longhôr (Vĩnh Long) dâng chúa Nguyễn để cầu hòa. Chúa Nguyễn
tiếp nhận các vùng đất này năm 1732.
Nhận thấy vùng đất phía Nam đã rất rộng
lớn, chúa Ninh cho lập châu Định Viễn, dựng dinh Long Hồ, bổ nhiệm quan lại địa
phương rồi đưa thêm dân Việt đến khai hoang lập nghiệp.
Các đời chúa Nguyễn mở rộng lãnh thổ – P5:
Lãnh thổ rộng lớn cực điểm
Năm 1738, chúa Nguyễn Phúc Thụ qua đời,
con trưởng là Nguyễn Phúc Khoát lên nối ngôi, người thời đấy gọi ông là Chúa
Võ. Chúa Võ đã giúp hoàn thành việc mở mang lãnh thổ Đại Việt, nhưng cũng vì
ông mà cơ nghiệp các đời chúa Nguyễn bị lụi tàn. Phải chờ đến hàng chục năm
sau, hậu duệ của Chúa Võ mới giúp lãnh thổ nước ta rộng lớn tới cực điểm.
Cao Miên dâng đất Long An, Tiền Giang
Khi chúa Nguyễn sáp nhập các vùng đất
của Chiêm Thành ở Bình Thuận và Ninh Thuận vào lãnh thổ, một số người Chăm đã
sang Cao Miên để định cư sinh sống. Thế nhưng sau đó triều đình Cao Miên liên
tục quấy nhiểu ức hiếp những người Chăm sinh sống ở đây.
Xem người Chăm là dân tộc thuộc quốc gia
của mình, năm 1753, Chúa Võ sai Thiện Chính và Nguyễn Cư Trinh tiến sang Cao
Miên để giải cứu người Chăm.
Năm 1754, Thiện Chính và Nguyễn Cư Trinh
từ Gia Định chia quân làm hai hướng tiến sang Cao Miên. Quân Cao Miên đại bại,
Quốc Vương là Nặc Nguyên phải chạy trốn đến Tầm Phong Thu (nay là tỉnh Kampong
Thom), các Phủ ở Cao Miên đều đầu hàng.
Mùa xuân năm 1755, thống suất Thiện
Chính rút về Mỹ Tho trước, còn những người Chăm đi sau. Nhưng trên đường đi,
người Chăm bất ngờ bị hơn 1 vạn quân Cao Miên tập kích, phải đem hết xe chất
thành lũy để ngăn ngăn quân Cao Miên đồng thời cho người đi cấp báo.
Thiện Chính vì sông sâu đầm lầy nên
không thể đến được, Nguyễn Cư Trinh lập tức đưa quân ngay đến đánh khiến quân
Cao Miên phải rút. Nguyễn Cư Trinh đưa hơn 5.000 người Chăm đến chân núi Bà
Dinh (tức núi Bà Đen ngày nay) an toàn.
Vì chuyện này, quân Chúa Nguyễn lại tiến
sang Cao Miên một lần nữa. Quân Cao Miên bị đánh tan tác, quốc vương Nặc Nguyên
chạy đến Hà Tiên nương tựa Mạc Thiên Tứ (hậu duệ Mạc Cửu, người đã dâng cho
Chúa Nguyễn vùng đất Hà Tiên và đảo Phú Quốc), nhờ Mạc Thiên Tứ làm trung gian,
đổ lỗi việc sát hại người Chăm là do tướng Chiêu Chùy Ếch làm. Đồng thời quốc
vương Nặc Nguyên xin dâng hai phủ là Tầm Bôn (tức Tân An, Long An ngày nay),
Lôi Lạt (tức Gò Công, Tiền Giang ngày nay), xin cống nộp lễ vật còn thiếu 3 năm
trước đó.
Chúa Võ không đồng ý mà yêu cầu Cao Miên
phải giao cả kẻ sát hại người Chăm là tướng Chiêu Chùy Ếch. Quốc vương Nặc
Nguyên báo rằng đã cho xử tử viên tướng này rồi. Chúa Nguyễn không tin nên yêu
cầu giao cả gia đình tướng Chiêu Chùy Ếch thì Nặc Nguyên xin Chúa Nguyễn tha
cho họ. Chúa Võ cho rằng quốc vương Cao Miên lừa dối nên không đồng ý.
Tuy nhiên Nguyễn Cư Trinh đã dâng sớ tâu
nhắc lại kế “tằm ăn dâu” và khuyên Chúa nên nhận 2 phủ này, lời sớ tâu có đoạn
rằng:
“Từ xưa, sở dĩ dùng đến binh, chẳng qua
là muốn giết đứa cừ khôi, mở mang bờ cõi mà thôi. Nay Nặc Nguyên đã hối quá,
biết nộp đất hiến của. Nếu không cho y hàng, thì y chạy trốn; mà từ Gia Định
đến La Bích, đường sá xa xôi, không tiện đuổi đánh. Vậy muốn mở mang bờ cõi,
chi bằng hãy lấy hai phủ ấy, giữ chặt phía sau cho hai dinh (Phiên Trấn và Trấn
Biên). Năm xưa, đi mở phủ Gia Định, trước phải mở phủ Hưng Phước (Biên Hoà),
rồi mới mở đến phủ Lộc Dã (Đồng Nai) để quân dân đoàn tụ, rồi mới mở đất Sài
Côn. Đó là cái kế ‘tằm ăn dâu’ đó”.
Cao Miên tiếp tục dâng đất Trà Vinh, Bến
Tre, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Kiên Giang, Cà Mau
Năm 1757 Nặc Nguyên mất, chú họ là Nặc
Nhuận tạm nắm quyền. Nhưng Nặc Nhuận muốn ngôi Vương nên tấu lên Chúa Võ phong
xin phong tước Vương cho mình. Chúa Võ yêu cầu Nặc Nhuận phải dâng hai vùng đất
là Trà Vang (nay là Trà Vinh và Bến Tre), Ba Thắc (nay là Sóc Trăng và Bạc
Liêu) mới chuẩn tấu.
Thế nhưng sang năm 1758, Nặc Nhuận bị
con rể là Nặc Hinh nổi loạn giết chết để cướp ngôi. Con của Nặc Nhuận là Nặc
Ong Ton chạy sang Hà Tiên lánh nạn và nhờ Mạc Thiên Tứ cầu cứu với Chúa Nguyễn
đánh đuổi Nặc Hinh giành lại ngôi Quốc Vương Cao Miên cho mình.
Chúa Võ nhận lời, sai Trương Phúc Du đem
quân thảo phạt. Ninh Hinh thua chạy đến Tầm Phong Xoài thì bị phiên liêu là Ốc
Nha Uông giết chết.
Chúa Võ đồng ý sắc phong cho Nặc Ong Ton
là Quốc Vương nhưng yêu cầu phải dâng thêm vùng đất Tầm Phong Long (tức An
Giang, Đồng Tháp bây giờ).
Ngoài ra Nặc Ong Ton vì để tạ ơn Mạc
Thiên Tứ đã cưu mang giúp đỡ mình khi hoạn nạn nên đã tặng riêng 5 phủ là:
Kompong Som (Vũng Thơm), Kampot (Cần Bột), Chal Chun (Chưn Rùm hay Chân Sâm),
Bantey M éas (Sài Mạt) và Raung Veng (Linh Quỳnh). Tuy nhiên Mạc Thiên Tứ đã
dâng hết cả 5 phủ này cho chúa Nguyễn. 5 phủ này đều thuộc tỉnh Kiên Giang và
Cà Mau ngày nay.
Hoàn tất công cuộc khai phá phương Nam
Năm 1758, cả một vùng đất Nam Bộ đã
thuộc về Chúa Nguyễn. Công cuộc Nam tiến của các đời chúa Nguyễn đến đây cũng
kết thúc.
Nếu vào thời điểm tháng 10/1558, thời
Chúa Nguyễn đầu tiên là Nguyễn Hoàng chỉ có hai vùng đất là Thuận Hóa và Quảng
Nam còn hoang sơ chưa được khai phá…
Thì đúng 200 năm sau, trải qua 8 đời
Chúa Nguyễn đến năm 1758, lãnh thổ Đàng Trong đã vô cùng rộng lớn, trải dài hết
vùng đất Nam Bộ đến tận vùng cực Nam, định hình cho nước Việt Nam ngày nay. Đó
là công lao các đời Chúa Nguyễn tạo thành.
Một phút lơ là để loạn thần thao túng
dẫn đến mất nước
Sau khi lãnh thổ rộng lớn, đất nước
cường thịnh, Chúa Võ lại chỉ lo tận hưởng cuộc sống xa hoa, không còn tha thiết
với việc nước nữa. Chúa Võ bị cậu là Trương Phúc Loan dụ dỗ đi vào con đường nữ
sắc không quan tâm đến vận nước, để từ đó Trương Phúc Loan có cơ hội nắm hết
quyền hành, khiến vận nước rối bời, muôn dân ca thán.
Năm 1765 Chúa Võ mất, viết di chiếu
nhường ngôi cho con là Nguyễn Phúc Luân (thân phụ của Nguyễn Phúc Ánh tức vua
Gia Long sau này). Biết Nguyễn Phúc Luân là người thông minh khó mà uy hiếp,
Trương Phúc Loan đã bố trí người giết chết cận vệ rồi bắt giam Nguyễn Phúc
Luân, đồng thời phong Nguyễn Phúc Thuần mới 11 tuổi lên nối ngôi. Ngay sau đó
Nguyễn Phúc Luân cũng chết trong ngục. Mọi việc đều do Trương Phúc Loan thao
túng khiến Đàng Trong ngày càng suy yếu.
Năm 1767, Lại bộ Thương thư Nguyễn Cư
Trinh, trụ cột nhà Nguyễn qua đời, không còn ai có sức ngăn cản Trương Phúc
Loan nữa. Những người có tài có tâm với nước đều bị Trương Phúc Loan tìm cách
hãm hại, quốc khố ngày càng kiệt quệ
Có được quyền hành Trương Phúc Loan tha
hồ vơ vét của cải mặc cho quốc nạn cũng như dân tình đói khổ, thuế sản vật các
mỏ vàng Thu Bồn, Đồng Hương, Trà Sơn, Trà Vân… đều rơi vào tay Loan. Loan tổ
chức thu thuế ở các cảng sông, cảng biển quan trọng và thu thuế khai thác các
nguồn tài nguyên, khoáng sản ở Quảng Nam mỗi năm ước đạt bảy tám vạn quan tiền
bỏ vào túi riêng, chỉ nộp công khố khoảng một hai phần. Thêm vào đó, Loan công
khai bán quan, chạy ngục nên đã thâu tóm được một lượng tài sản kếch xù.
Sử sách ghi lại rằng, có năm ngập lụt,
nước tràn vào cả dinh thự của Trương Phúc Loan ở Phần Dương. Sau khi nước rút
ông ta phơi vàng bạc ở sân cho khô ráo làm sáng rực cả một góc trời. Cả nhà họ
Trương chia nhau nắm giữ mọi chức vụ chủ chốt trong triều đình.
Trương Phúc Loan không quan tâm đến đời
sống người dân, mặc cho dân đói khổ vì thiên tai, ông ta còn tăng các khoản sưu
thuế rất nặng. Cuộc sống người dân Đàng Trong đang phồn thịnh bỗng chốc trở nên
nghèo đói lầm than, người dân oán thán gọi Trương Phúc Loan là Trương Tần Cối.
(Tần Cối là một gian thần bán nước thời Nam Tống bên Trung Quốc)
Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn nổ ra đã đánh đổ
Chúa Nguyễn. 8 đời Chúa Nguyễn đều có công Nam tiến mở rộng lãnh thổ, đời sống
Đàng Trong rất sung túc, nhưng Chúa Võ cuối đời chỉ lo hưởng lạc mà bị quyền
thần thao túng, khiến cơ nghiệp sụp đổ.
Nhà Nguyễn lấy lại Giang Sơn, mở rộng
lãnh thổ lớn gấp hơn 1,7 lần ngày nay
Sau này hậu duệ Chúa Nguyễn là Nguyễn
Phúc Ánh (cháu nội của Chúa Võ Nguyễn Phúc Khoát, con của Nguyễn Phúc Luân) đã
đánh thắng được Tây Sơn, thống nhất toàn cõi lãnh thổ, lên ngôi Vua vào năm
1802, hiệu là Gia Long, lập ra triều đại nhà Nguyễn.
Các đời vua Gia Long và Minh Mạng, Việt
Nam ngày càng hùng mạnh khiến Ai Lao (tức Lào ngày nay) phải thần phục, xin
được đặt dưới sự bảo hộ và sáp nhập vào lãnh thổ Việt Nam.
Nhà Nguyễn cũng đưa quân sang Cao Miên
đánh bại quân Xiêm la, khiến Cao Miên mong được bảo hộ, đồng thời sáp nhập hầu
hết các vùng đất Cao Miên vào lãnh thổ Việt Nam.
Đến năm 1835 thời vua Minh Mạng, với các
vùng đất từ Ai Lao và Cao Miên sáp nhập vào, lãnh thổ Việt Nam đạt đến cực
điểm, rộng 575.000 km2 tức gấp hơn 1,7 lần so với Việt Nam bây giờ (diện tích
Việt Nam hiện là 331.698 km2, theo cổng thông tin điện tử chính phủ năm 2009).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét